Saturday, August 16, 2025

81. SỬ nhạc Nguyễn Phúc Sông Hương

81. SỬ nhạc Nguyễn Phúc Sông Hương

Nguyễn Phúc Sông Hương - fb Dennie Lam
 
 
--------------------
Nguyễn Phúc Sông Hương (AI HoaMai Dalat) 
------------------
 
1a. NỬA HỒN XUÂN LỘC 2 - Nguyễn Phúc Sông Hương (AI HoaMai Dalat)
https://www.youtube.com/watch?v=PCjg2vVNikU
1b. NỬA HỒN XUÂN LỘC - Nguyễn Phúc Sông Hương
https://www.youtube.com/watch?v=j-EvI7VE-NU 
2. CHÉN CƠM LÀNG LONG THẠNH MỸ CHIỀU NGÀY 30-4 (Nguyễn Phúc Sông Hương) (AI HoaMai Dalat)
https://www.youtube.com/watch?v=QoyUEExHn0s
 
 
------------------ 
NỬA HỒN XUÂN LỘC
Nguyễn Phúc Sông Hương
Nếu được như bố già thượng sĩ
Nghe tin lui quân chỉ nhìn trời,
Vỗ về nón sắt, cười khinh bạc,
Chắc hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.
Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc
Lại muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay nồng mắt người gục trên vai.
Vì chắc ôm nhau em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính cả trăm người!
Em biết dù tim ta sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.
Mây xa dù quen đời chia biệt
Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, bỏ lại hồn ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!
Bí mật lui quân mà đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi.
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn
Núm ruột miền Trung càng xa vời.
Sáng mai thức dậy, em buồn lắm
Sẽ khóc trách ta nỡ phụ người.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi!
Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết
Như một vành tang bịt đất trời!
Chân theo quân rút, hồn ta ở
Sông nước La Ngà pha máu sôi;
Thương chiếc cầu tre chờ thác lũ
Cuốn qua Xuân Lộc khóc cùng người
Ta đi, áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tiếc quá nắng vàng phơi áo trận,
Vườn nhà em chuối chín vàng tươi.
Ta nhớ người bên đàn thỏ trắng,
Cho bầy gà nắm lúa đang phơi,
Chôm chôm hai gốc đong đưa võng,
Ru nắng mùa xuân đẹp nụ cười...
Nếu được đưa quân lên Định Quán
Cuối cùng một trận cũng là vui
Núi Chứa Chan kia sừng sững đứng
Sư đoàn 18 sao quân lui?
Thân ta là ngựa sao không hí
Cho nỗi đau lan rộng đất trời.
Hồn ta là kiếm sao không chém
Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã
Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!
Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy
Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Đêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút
Đành biệt nhau, xin tạ lỗi người.
Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi,
Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui.
Ta biết dưới hầm em đang khóc
Thét gầm pháo địch dập không thôi
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người.
Nguyễn Phúc Sông Hương

-------------------------
LÝ THỤY Ý
 
Đọc NỬA HỒN XUÂN LỘC của Nguyễn Phúc Sông Hương.
-Lý Thụy Ý
Hôm nay
đọc “NỬA HỒN XUÂN LỘC”
Nước mắt từ lâu tưởng cạn rồi
Ta khóc
Như chưa từng được khóc
Như nhìn chiến trận mới đây thôi
Mây Xuân Lộc đỏ như màu lửa
Đã dịu trong màn nước mắt rơi
Người đi không nở câu chia biệt
“Em giữ dùm ta nửa cuộc đời!”
“Cổ lai chinh chiến!..Ừ! Ta biết…
Lính trận…thì ai cũng vậy thôi!”
Cắn răng bỏ lại hồn Xuân Lộc
Ghìm súng
Trông theo bốn hướng trời
“Lỡ mai…ta có không về được
Em hãy quên…từng mơ lứa đôi!”
*
Hôm nay gặp lại trời Xuân Lộc
Một nửa trăm năm
vẫn có người
Nhớ màu áo chiến
mùi sương gió
Ký ức vẹn nguyên của một thời
SÀI GÒN chết điếng
nhìn Xuân Lộ
Nghẹn ngào…
đành phải phụ em thôi!
*
Bao năm gặp lại hồn Xuân Lộc
Nghe nhịp tim xưa lạc mấy lần
Nghe gió SÀI GÒN như tức tưởi
Thương đời kiêu bạc
nhớ chinh nhân.
Một nửa trăm năm
đầu bạc trắng
Nhắc thời binh lửa vẫn còn đau!
Nhiều đêm
mơ thấy về Xuân Lộc.
Pháo sáng chia đường…
lạc mất nhau…
*
Người ơi!
có nhớ về Xuân Lộc
Nhớ màu mây lửa đốt quê hương
Đốt tim người Lính đi ngày ấy
Gởi hẹn thề
trong khúc đoạn trường…
Người ơi!
có nhớ về Xuân Lộc
Trận đánh đầu tiên
đến cuối cùng.
Rút quân!
chỉ muốn quay đầu súng
Máu nóng tuôn trào…
muốn vỡ tung…!
*
Hôm nay đọc
“NỬA HỒN XUÂN LỘC.
Người Lính năm xưa biết có còn?
Đã nghe Người hận
vì buông súng
“Lẽ ra phải chết giữa Sài Gòn!”
Người mang theo
nửa hồn Xuân Lộc
Trên bước ly hương cuối dốc đời
Còn ta
giữ nửa hồn Xuân Lộc
Trong trái tim
từng mơ lứa đôi…
Lý Thụy Ý
----------------
 
Người Lính Chưa Qua Sông
Nguyễn Phúc Sông Hương 
Tiểu Đoàn Trưởng. Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Tù cải tạo. Hiện sống lưu vong ở Hoa Kỳ.
(Cho cháu Trúc Vy khi cháu khôn lớn để cháu hiểu và thương ngày xưa của ông ngoại)
 
Ngày thứ mười hai của trận chiến, từ khi lên Bộ Tư Lệnh họp và nhận lệnh trở về, Tiểu Đoàn Trưởng luôn trầm tư. Nhiều lần Tiểu Đoàn Trưởng nhìn Tiểu Đoàn Phó như muốn nói gì đó nhưng rồi lại lắc đầu, yên lặng. Qua vô tuyến, các đại đội báo cáo vẫn tiếp tục hoạt động lục soát trong khu vực trách nhiệm và tìm thấy rất nhiều xác lính CS và các loại vũ khí của họ trong rừng cao su hướng Tây Nam thị xã. Tiểu Đoàn Trưởng cho lệnh các Đại đội trưởng: 
"không cần thiết phải thu lượm chiến lợi phẩm." Đến sáu giờ chiều, Tiểu Đoàn trưởng họp các đại đội trưởng cho lệnh chuẩn bị di chuyển lúc sáu giờ ba muơi phút. Im lặng vô tuyến kể từ giờ phút này. Bảy giờ kém mười lăm, khi Tiểu Đoàn vừa đến điểm tập trung tại ngã ba Tân Phong sát quận đường Xuân Lộc, Tiểu Đoàn Phó và các đại đội trưởng mới biết lệnh bỏ Xuân Lộc. 
 
Mọi người tái mặt nhưng không ai nói gì. Tiểu Đoàn Truởng nhìn sâu vào mắt Tiểu Đoàn Phó Nguyễn Mạnh Tông như muốn san sẻ nổi buồn và sự lo lắng của bạn mình. Nguyễn Mạnh Tông có vợ và mẹ vợ đang ở Xuân Lộc. Bây giờ quân rút, số phận người thân ở lại sẽ ra sao khi quân lính CS tràn vào phòng tuyến trống nội ngày mai. Nguyễn Mạnh Tông nhìn Tiểu Đoàn Trưởng gật đầu và nói trong xúc động: - Không chỉ riêng gia đình tôi mà còn rất nhiều gia đình vợ con binh sĩ Sư Đoàn phải chịu ở lại. Buồn và lo thật nhưng đành chịu. Nếu Thiếu Tá có cho tôi biết trước, tôi cũng sẽ không về từ biệt gia đình. Mọi người ai cũng biết đến bài học rút quân đầy cay đắng của quân dân vùng Cao nguyên vừa mới tháng trước đây thôi. Gia đình kéo theo, lính không còn lòng dạ nào để chiến đấu....
 
Rút bỏ Xuân Lộc theo tình hình biến chuyển của chiến trường, và tình hình chung của đất nước, nhưng dù sao đi nữa, lòng người lính Sư Đoàn cũng vô cùng đau xót khi phải bỏ vùng đất nhà quen thuộc. 
 
Và còn nữa: sự liên hệ mật thiết với người ở lại, ra đi chẳng khác gì ruột cắt làm đôi. Đêm đó trên đường hành quân, anh em binh sĩ nhận ra được Tư Lệnh Sư đoàn kiêm Tư lệnh mặt trận Xuân Lộc, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, cùng di chuyển đường bộ với họ... 
 
Tại sao Tư Lệnh không xử dụng trực thăng riêng của ông? Buổi trưa họp ở BTL, Tiểu Đoàn Trưởng nhận thấy Tư Lệnh không được khoẻ, gương mặt hốc hác với đôi mắt sâu và thâm quần của một người mất ngủ. Thế mà đêm nay rút quân ông lại không xử dụng trực thăng riêng của mình để được khoẻ thân và an toàn như nhiều cấp Tướng lãnh chỉ huy khác? Thêm một lần nữa, vị Tướng trẻ chứng tỏ tinh thần sát cánh chiến đấu cùng với thuộc cấp, trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những giờ phút sinh tử. Với một cấp chỉ huy như vậy thì anh em binh sĩ làm sao mà không hăng say chiến đấu... Nhìn lại, ba năm giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng dưới quyền ông, vỏn vẹn chỉ có ba chai Martel mình tặng ông trong dịp Tết. Đáp lại khi Tiểu đoàn về trú đóng gần bộ Tư Lệnh Sư đoàn, ông đã ưu ái tổ chức tiệc, dạ vũ cho tất cả sĩ quan Tiểu đoàn và chính ông cùng tham dự, lên sân khấu đàn và hát cho anh em binh sĩ nghe.
 
Sư đoàn 18 rút khỏi Xuân Lộc, xe tăng và bộ binh càn qua chốt địch chận trên đường 22 mà đi, về đến Bình Giả vào sáng hôm sau gần như toàn vẹn. Chỉ riêng anh em chiến sĩ Lữ Đoàn Dù tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc rút sau, trách nhiệm đoạn hậu nặng nề đã chạm súng với quân CS bám theo. Trở về căn cứ Long Bình vài ngày để bổ sung vũ khí. Ngày 25 tháng Tư, Tiểu đoàn theo Trung đoàn lên lập phòng tuyến tại vùng Trãng Bom, ranh giới Biên Hòa, Long khánh. Cùng với một Chi đoàn M113 thuộc Thiết Đoàn 5 do Đại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, Tiểu đoàn dàn quân bên này hào sâu cắt ngang Quốc Lộ 1. 
 
Quân số Tiểu Đoàn sau trận Xuân Lộc còn lại trên 300. Một điều khiến các cấp chỉ huy Tiểu đoàn rất vui là không một người lính nào đào ngủ dù mấy ngày ở Long Bình, Biên Hòa, nơi anh em có nhiều cơ hội để bỏ về Sài Gòn, nơi có gia đình đang trông đợi. Tất cả anh em không đành lòng bỏ lại bạn bè, cấp chỉ huy, tất cả cùng chấp nhận đồng lao cộng khổ cho đến giờ phút cuối cùng. Sáng ngày 27 tháng Tư, xe tăng địch bò đến phía bên kia phòng tuyến. Hai chiếc M41 của Thiết Đoàn 5 nguỵ trang chực sẳn bắn đại bác 90 ly trúng một tăng địch. Nhưng, từ hai mặt phải trái cách quốc lộ 1 khoảng trên 100 mét, cùng một lúc lính bộ binh và xe tăng địch xuất hiện. Thì ra lực lượng địch biết không thể băng qua hào sâu nên len lỏi trong rừng, bọc vòng tạo thành thế gọng kềm để kẹp chặt Trung đoàn 48. Qua vô tuyến, lúc đó mới biết rằng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và Tiểu Đoàn 1 đóng trong đồn điền cao su Trãng Bom đã rút về hướng Nam từ lúc tờ mờ sáng. Như vậy tại tuyến đầu chỉ còn lại Tiểu đoàn 3 và một Chi Đoàn M113 trong lúc xe tăng và bộ binh địch ào ào tràn ra từ ba hướng. Sau lưng không còn lực để dựa thì còn đánh đấm gì được nữa!.Nếu không nhanh chân thì chắc chắn sẽ bị quân CS bao vây cắt đường rút và diệt gọn. 
 
Tiểu Đoàn Trưởng lệnh cho các đứa em phân tán, rút nhanh ra đường. Tội nghiệp chi đoàn M113 của Đại úy Sơn phải tức tốc phân tán để đón những người bạn bộ binh trong lúc tăng địch bắn phá dữ dội. Nếu thiếu tinh thần chiến đấu và đồng đội thì anh em thiết giáp đã bỏ bạn bè bộ binh, vì thật ra M113 đâu phải là đối thủ của tăng T54 CS. Ngay cả M41 của mình cũng đã quá già nua yếu ớt đối với T54. Nhưng nếu M113 mà bỏ chạy thì đâu còn là chiến sĩ Thiết Giáp Quân lực VNCH. Hơn nữa, Tiểu đoàn 3/48 với Chi đoàn 3 Thiết Đoàn 5 đã quá quen biết giao tình qua bao cuộc hành quân chung khắp vùng 3 chiến thuật và bên kia biên giới Campuchea trong năm 1970. 
 
Chi đoàn M113 của Đại úy Sơn vốn đã quen địa hình nên sau khi đã gom được bộ binh liền rút rất nhanh. T54 địch đuổi theo, nhưng không làm được gì. Đây thật sự là một cuộc rút chạy. Đáng buồn thật. Đáng buồn vì phải bỏ lại hai chiếc M41 anh hùng ở tuyến đầu, đáng buồn vì đơn vị chưa nổ một phát súng đã tìm đường thoát thân. Nhớ lại đêm nào ở mặt trận Bến Cát Bình Dương năm 1973, lính Tiểu Đoàn đuổi tăng địch, bắn cháy tăng địch, và mới hai tuần trước đây thôi lúc còn ở mặt trận Xuân Lộc, tăng địch là miếng mồi ngon cho M72. 
 
Đáng buồn khi nghĩ đến anh em chiến sĩ Địa Phương quân ở căn cứ Bầu Cá chiến đấu trong tuyệt vọng. Tội nghiệp cho những chiến sĩ và gia đình con bị bỏ lại trong căn cứ Bầu Cá nhỏ bé, cô đơn. Ngày 28 tháng tư, Tiểu đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Nô, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 làm tuyến án ngữ mặt bắc căn cứ Long Bình. Ngày hôm đó, chỉ có tăng của hai bên bắn nhau, còn bộ binh ngồi chơi, la hét cổ vỏ mỗi lần tăng địch bị trúng đại bác 90 ly của M41. Lúc này mà có M48 lâm trận thì T54 của địch chắc phải cháy như cây đuốc nhiều hơn nữa. Từ đồi cao nhìn xuống Quốc lộ, người lính Sư đoàn hết sức khâm phục những người bạn Nghĩa quân Hố Nai, chỉ với súng carbin và M16 trong tay cũng bố trí chận đánh bộ binh địch nếu địch dám xâm phạm vào vùng đất xóm làng thân thương của họ. Ngày 29 tháng tư, lúc 5 giờ chiều, Tư Lệnh gọi Trung Tá Thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 5 và Tiểu đoàn trưởng 3/48 đến BTL trong căn cứ Long Bình để họp cùng Tướng lê Minh Đảo, Trung Tá Nguyễn Văn Nô và Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3/48. Khi đang họp thì chuông điện thoại reo vang . 
 
Tướng tư Lệnh nhấc ống nghe. Một phút sau ông bỏ máy với vẻ chán nản và nói: 
- Tổng Thống Dương Văn Minh hỏi chúng ta có giữ được Long Bình Biên Hòa để chờ thương thuyết không? Ông nhìn thẳng hai thuộc cấp rồi chậm rải từng tiếng một: 
- Phải giữ bằng mọi giá, đây là vòng đai cuối cùng để bảo vệ Sài Gòn! Ông nhướng đôi mắt sáng lên: 
- Thiết Đoàn của Trung Tá Nô chưa suy xuyển bao nhiêu phải không? Còn em, quân số Tiểu đoàn còn được bao nhiêu ? 
- Thưa Thiếu Tướng, còn đủ, chưa mất mát người nào từ khi rời khỏi Xuân Lộc! Nhìn hai anh em chúng tôi, Thiếu Tướng nói với giọng cương quyết: 
- Các em phải chiến đấu toàn lực, không được để mất thêm một tấc đất nào!
 
Trên tấm bản đồ hành quân vùng 3 Chiến thuật, đầy ký hiệu màu đỏ chỉ các đại đơn vị địch: Quân đoàn 1 từ hướng Bắc theo QL 13, QĐ2 và 4 từ hướng Đông Bắc đang áp sát Biên Hòa, QĐ 3 từ Tây Bắc theo QL 1 gần Củ Chi, các Sư đoàn, Trung đoàn, tổng cộng gần 16 Sư đoàn quân CS với những mũi tên đỏ cùng chỉ hướng Sài Gòn. Trung Tá Nô lắc đầu khi nhìn khuôn mặt hốc hác vì thiếu ngủ và lo âu của vị Tư Lệnh. Mình cũng vậy thôi phải không Trung Tá, nhưng dù sao thì chúng ta ngày quần thảo với địch quá mỏi mệt, đêm nằm xuống đầu không kịp suy nghĩ đã bị hơi đất xông lên kéo giấc ngủ đến rất mau. Những giấc ngủ mệt nhưng có còn hơn không. 
 
Tư Lệnh thì chắc không ngủ được bởi cái đầu chứa đầy hình ảnh những mũi tên đỏ chỉ về Thủ đô. Ngày mai sẽ có giải pháp, Tổng Thống Dương Văn Minh vừa nói như vậy. Giải pháp như thế nào. Giải pháp gì khi chúng ta đang ở trong thế yếu? Nhượng bộ và nhượng bộ mà thôi. Lời nói của Tổng Thống khi ông nhậm chức ngày hôm kia rỏ ràng đã tỏ ra quá nhiều nhân nhượng và sợ hải kẻ thù, làm mất tinh thần toàn quân. Ông dùng hai chữ "anh em" để chỉ kẻ xâm lược như một đòn tình cảm, nhưng chắc chắn ông chẳng bao giờ được phe bên kia đáp ứng trong "tinh thần anh em" đó. Khoảng 11 giờ đêm 29 tháng Tư, đài phát thanh Sài Gòn phát lời huấn lệnh của Tướng ba sao Vĩnh Lộc, quyền Tổng Tham Mưu trưởng QLVNCH: 
- Các cùi cố gắng giúp Tổng Thống hoàn thành nhiệm vụ lịch sử! Có phải chăng đây là lời giả biệt của vị Tướng ba sao? 
 
Linh cảm cho anh em chiến sĩ biết rằng lại thêm một cấp chỉ huy cao cấp đào ngủ, bỏ nước ra đi. Có một chút gì cay đắng, buồn bực và khinh thường trong lòng những người chiến binh. Không! Chúng tôi không bỏ hàng ngủ! Vẫn còn những người lính Bộ Binh và Thiết Giáp đầy gian khổ nguy nan này, vẫn còn rất nhiều đơn vị trên các trận tuyến chung quanh Thủ đô yêu quý. 
 
Sư đoàn 5 ở Lai Khê của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Sư Đoàn 25 ở Củ Chi của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, và hàng hàng lớp lớp chiến sĩ anh hùng các đại đơn vị Tổng trừ bị Dù, Thủy Quân Lục chiến, Biệt Động Quân. Những cánh chim đại bàng của không quân VNCH vẫn còn bay, những hạm đội của Hải quân vẫn còn trên sông ngòi, mặt biển Tổ quốc.
 
Đêm đó, pháo địch từ mọi hướng rót xuống Long Bình như không ngừng nghỉ. Khoảng 3 giờ sáng toàn thể các đơn vị được lệnh rút khỏi Long Bình kéo về bờ Nam sông Đồng Nai làm phòng tuyến. 
 
Lúc qua thành phố Biên Hòa, thật ngạc nhiên khi nhìn thấy rất nhiều xe tăng tối tân M48 bố trí khắp nơi trong thành phố. M48 nằm đây để chờ T54 của địch vào thành phố rồi mới nổ súng hay sao ? Biết còn có cơ hội nổ súng hay không? Sao Tư Lệnh Quân đoàn Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn không tăng cường M48 cho chiến tuyến Trãng Bom mà giao trách nhiệm nặng nề cho những chiếc 41 có từ Đệ Nhị thế chiến? 
 
Tiểu đoàn Trưởng nuốt nước bọt đắng khô cổ nhưng nước mắt thì như muốn ứa ra đầy uất ức. Người ta quý những chiếc tăng 48 này hơn những mạng người. Một chiếc tăng M48 giá mấy triệu Mỹ kim trong lúc giá một người lính bằng 12 tháng tiền tử tuất. Thôi đi, đừng suy nghĩ vẩn vơ, ngươi chỉ là một sĩ quan chỉ huy nhỏ, cầm Tiểu đoàn còn chưa xong, biết gì mà vội trách móc các cấp chỉ huy cao cấp của mình! Ngày 30 tháng Tư lúc trời vừa hừng sáng, đơn vị vừa xuống xe đang bố trí gần khu Nghĩa trang Biên Hòa thì quân CS với xe tăng treo cờ MTGP dẩn đầu đoàn Molotova theo xa lộ hướng về Sài Gòn. 
 
Họ đi một cách ngang nhiên như đoàn xe diễn hành. Mấy chiếc tăng dẩn đầu, thỉnh thoảng còn nổ súng bắn vu vơ vào hai bên đường, còn bộ binh trên xe Molotova vẫn ngồi yên.
Hỏa lực từ vài chiếc M113 trên đồi Nghĩa trang bắn theo nhưng đoàn xe CS vẫn tiếp tục theo hướng đã định. Lúc này thì Bộ Binh đã tách rời Thiết Giáp. Không biết Thiết Đoàn 5 sau đó về đâu, còn Bộ Binh gồm Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 48 với Trung đoàn trưởng Trung Tá Nguyễn Chí Công và toàn bộ Tiểu đoàn 3 cùng băng đồng tìm cách về Sài Gòn. Trung Đoàn phó là Trung Tá Khôi đi cùng Tiểu đoàn 1/48 cũng trực chỉ hướng Thủ Đô. Người lính lúc này sốt ruột lắm. Phải di chuyển cho nhanh về tiếp tay với các lực lượng bạn ở Sài Gòn để giữ cho được Thủ đô yêu quý của người miền Nam. VC từ trong các làng, sau các lùm tre bắn đuổi theo, anh em cũng không cần bắn trả lại. 
 
Thỉnh thoảng nghe những tiếng nổ lớn từ hướng Sài Gòn, và nhìn những cụm khói đen bốc cao từ lòng Thủ đô, bước chân người lính như muốn bốc lên khỏi những cánh đồng đất bùn đang làm chậm bước. Thấy lính Sư Đoàn, anh em Địa Phương Quân bỏ đồn bót, xách súng đạn chạy theo để cùng về Sài Gòn chiến đấu. Đồn bót làm gì nữa khi Sài Gòn sắp mất. Nhưng!!!... 
 
Lúc đó khoảng mười giờ, cái thời gian lạ hoắc và đáng nguyền rủa. Bàng hoàng, sửng sốt, tuyệt vọng bỗng ào đến giữ chặt cứng những bước chân, làm mắt hoa lên và tim như nghẹt thở khi tiếng nói của một người xa lạ vang lên từ chiếc radio nhỏ người lính mang theo bên mình. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, ông là ai? Chắc ông không phải là Nguyễn Hữu Hạnh, con cọp Ba Đầu Rằng nổi tiếng, từng khiến Cộng Sản kinh sợ ở Biệt Khu 41 Phước Bình Thành? Nguyễn Hữu Hạnh này là Nguyễn Hữu Hạnh xa lạ vừa được Tổng Thống hai ngày phong chức Tham Mưu trưởng QLVNCH. Chúng tôi nghi ngờ ông không phải là một vị Tướng lãnh của QLVNCH, bởi vì nếu thật ông là Tuớng từng cầm quân trận mạc thì chắc ông đã không quên ý chí kiêu hùng của người lính VNCH. 
Chúng tôi, những con xe đã ủi hết cuộc đời, những con tốt đã liều lĩnh qua sông, những con mã chạy không kịp thở, những con pháo tự nổ tung xác để làm gì trong bao nhiêu năm tháng qua, để bây giờ phải lắng nghe, tuân thủ cái lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã!? Quý vị không thấy nhưng chúng tôi thấy những bạn bè đã hy sinh đang sống lại, khóc lóc và nguyền rủa... 
 
Ngay cả những oan hồn người lính CS chết trên đường vào Nam cũng đang cười vào đầu óc ngây thơ của quý vị đang ngồi trong dinh Độc Lập, trong bộ Tổng Tham Mưu!! Đầu hàng! Thật quá dể. Chúng tôi có thể làm được điều đó ngoài mặt trận, nhưng những người lính trực diện vơi súng đạn đã không làm vì còn danh dự, trách nhiệm đối với Quân Lực và Tổ Quốc. Không bao giờ chúng tôi nghĩ đến ngày QLVNCH phải đầu hàng. Thực tế tại các chiến trường trong nhiều năm chiến đấu đã cho chúng tôi niềm tin rằng QLVNCH mạnh hơn quân CS Bắc Việt trên mọi mặt. Chúng ta yếu kém hơn họ trên mặt trận tuyên truyền láo khoét mà thôi. Chao ơi, nào ai muốn chiến tranh huynh đệ tương tàn. 
 
Nhưng có ai nhận chúng ta là huynh đệ không? Và họ có nghĩ gì đến tổ quốc Việt Nam hay là chỉ phục vụ cho tổ quốc Cộng sản bạo tàn? Chúng ta không muốn chiến tranh, chúng ta chỉ là kẻ tự vệ. Kẻ tự vệ bao giờ cũng sáng ngời lý tưởng, huống gì lý tưởng chiến đấu của chúng ta là hai chữ Tự Do. Này, các "người anh em", hãy đến đây nhận lấy vũ khí, rồi trả thù, hành hạ, đánh đập, tù ngục chúng tôi. Khi buông súng là mặc nhiên chấp nhận tất cả. Và để rồi xem ý nghĩa hai chữ "anh em" mà thượng cấp chúng tôi dùng sẽ như thế nào! Anh em đồng đội của tôi ơi, cho đến giờ phút này, tuy lòng đau đớn nhưng chúng ta thật bình thản, không hề mảy may sợ hãi, bởi vì chúng ta đã cầm súng để tự bảo vệ mình.
 
Chúng ta chiến đấu trong tinh thần dân tộc máu đỏ, da vàng, không thẹn với lương tâm bởi tinh thần mã thượng và nhân đạo của con nguời đối với con người nơi trận tuyến. 
 
Chúng ta quý mạng sống kẻ thù như mạng sống của mình. Chưa, chưa bao giờ chúng ta nhẫn tâm ném một trái lựu đạn xuống hầm VC vì tiếng khóc của bà mẹ, của người vợ van xin cho đứa con, cho người chồng lầm đường. Chưa bao giờ chúng ta căm thù, hành hạ kẻ vừa bắn ngã đồng đội anh em mình bởi vì chúng ta hiểu đó là quy luật của chiến trường. Những người lính hai bên ai cũng muốn mình chiến thắng. Người lính miền Nam chúng ta nổ súng không có thù hận đem theo. Và đó cũng là một nguyên nhân mà chúng ta thành kẻ chiến bại ngày hôm nay.
* * *
 
Lúc này là 11 giờ 30, mặt trời và mặt đất như chưa bao giờ biết nhau như những người lính chưa bao giờ phải buông súng đầu hàng. Gần ba trăm tay súng, bỗng chốc tự mình làm cho mình còn lại tay không. Tay không trong hiện tại đớn đau và tay không trong tương lai khốn cùng. Ba trăm con người sắp hàng bước đi trước họng súng của mười du kích CS. 
 
Có lẻ trong giây phút này đây quý vị trong Dinh Tổng Thống cũng không hơn gì chúng tôi. Nơi đây, những du kích này còn lo sợ chúng tôi phản ứng còn quý vị thì đang ngoan ngoãn vâng lời dạ thưa tôi xin bàn giao, tôi xin đầu hàng. Trong Dinh tổng Thống không có mẹ già khóc, không có những em nhỏ nhìn theo mến thương, trước đám đông, nhiều đồng bào còn hoan hô các anh chiến sĩ QLVNCH. Đây là đồng bào thuộc xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Đức, những con dân miền Nam nhân ái , yêu chuộng tự do. Họ đang đứng thành hàng hai bên đường, không phải để đón tiếp kẻ cầm vũ khí trong tay mà đón tiếp những người vừa bị lột trần giày, nón. Những nụ cười rất quen thuộc, thân thương mà kẻ chiến thắng cũng như quý vị cao chạy xa bay, đầu hàng không bao giờ được trao tặng. Cởi dày, cởi áo phải chăng là khúc cuối của vở bi kịch? Phải, chính là bi kịch, nhưng đoạn cuối thì chưa đến. 
 
Vì là bi kịch nên cha, mẹ, anh chị, em đứng hai bên đường rơi nước mắt. Tất cả mọi người đều sợ chiến tranh, giờ đây chiến tranh đã chấm dứt mà sao đồng bào nơi đây không cảm thấy có niềm vui. Phải chăng khi đã thật sự thấy tận mắt những gương mặt hốc hác, những nụ cười không lành lặn, trọn vẹn, những áo bạc màu rách vai, những đôi dày vẹt đế đầy bùn đất... 
 
đồng bào mới hiểu được có những chịu đựng tận cùng của con người nơi các chiến sĩ miền Nam của họ. Và chính đó là tình thương chân thật . 
 
Mừng cho các con còn sống! Mừng cho các anh yên lành! Chúng con nghe mẹ nói, muốn cầm tay mẹ và thì thầm mẹ ơi, chúng con đang chết từ giây phút này, một cái chết dưới thấp hơn tất cả cái chết trên đời thưa mẹ. Các anh muốn nói với em rằng có những vết thương đang hằn sâu, sâu hơn những vết thương các anh nhận từ chiến
trận .
* * *
 
Một tên xã đội trưởng du kích hỏi: 
- Ai là cấp chỉ huy ở đây? Mọi người chờ đợi. Tiểu Đoàn Trưởng trả lời: - Tôi! - Anh tập họp tất cả binh lính! Xã đội trưởng nói, giọng không được tự chủ khi đối diện với mấy trăm con người mắt nhìn hắn như trêu ghẹo... 
 
Lúc đó trong sân chùa Long Thạnh Mỹ, những người lính ngồi bệt xuống đất, cởi những chiếc vớ nhà binh rồi đưa lên mũi ngửi, mỉm cười nhìn nhau. Phải không bạn, chúng mình mang những đôi vớ này đã mấy ngày từ hôm rút khỏi Trãng Bom mà không có thì giờ để thay chiếc khác. 
 
Cởi những đôi vớ ra, bàn chân thật thoải mái nhưng tâm hồn sao lại u uất. Mùi hôi của vớ không nặng bằng mùi phiền muộn. Khi thấy anh em binh sĩ cởi giày, nhiều bà con chạy về nhà lấy dép ra cho. Lính và dân trao đổi giày nhà binh và dép nhẹ với những nụ cười như muốn nói với nhau: 
"Cám ơn em đã cho anh đôi dép, đôi dép khiến đôi bàn chân anh nhẹ nhàng. Cám ơn anh đã nhường cho em đôi giày lính, đôi giày này sẽ tiện lợi cho em trong những tháng ngày tương lai.
 
" Thấy đồng bào vui mừng khi nhận đôi bốt mòn đế, người lính ngạc nhiên nhưng rồi chợt hiểu. Phải, chính từ giờ phút này đây, những cuộc đời sẽ thay đổi, những khốn khó đang chực chờ. Tội nghiệp các em đang độ tuổi lớn khôn, chỉ mới ngày đầu mà đã thấy ra con đường tương lai đen tối! Khoảng hai giờ chiều thì đồng bào đem thức ăn đến sân chùa Long Thạnh Mỹ. 
- Các con ăn cơm cho đở đói! 
- Các chú ăn cho thật no nghe!. 
- Các anh cứ tự nhiên như ăn cơm của mình!Đồng bào trong xã mời các anh, thương các anh lắm! Đã lâu lắm rồi, đây là bữa cơm thịnh soạn nhất mà người lính chiến đấu được hưởng. Cơm gạo trắng, thịt heo kho măng thơm phức. Nhiều đồng bào đứng xem lính ăn, cười mãn nguyện. 
- "Trưa nay ăn thịt kho, chiều nay ăn cá lóc kho nghe các con!" Mẹ nói. 
- "Ra giếng chùa tắm cho mát rồi đi nghĩ cho khoẻ nghe các con!" Cha bảo. Tội nghiệp vị sư già gần 70 tuổi, không quen mùi thức ăn sinh vật, nhưng cũng đi từ nhóm này đến nhóm khác thăm hỏi như là một người cha sau bao ngày xa xách con mình. Hầu hết anh em binh sĩ đều ăn uống tự nhiên, rất ngon lành. Những sĩ quan chỉ huy thì không bình yên như vậy. 
 
Có người không nuốt nổi vì nước mắt lưng tròng. Khóc vì tủi nhục và cũng vì sung sướng. Nếu chiến đấu không có lý tưởng, không vì tự do hạnh phúc của dân tộc thì sao có được bữa cơm đầy tình nghĩa đáp đền hôm nay. Buổi chiều sân chùa vắng lặng vì anh em binh sĩ vào chơi trong làng. Trung Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng và vài sĩ quan ở lại nghe vị sư già nói chuyện. 
 
Trước đây, sư đã từng có chức vụ trong ủyban kháng chiến Liên khu 5 ở miền Trung, nhưng sư bỏ trốn vào Nam khi nhận rõ bản chất của người CS. Sư nói: 
- Quân Đội miền Nam có lý tưởng nhưng không tinh nhuần lý tưởng, lại thiếu khôn ngoan xảo quyệt, nhân nghĩa giả như Cộng Sản. Khi được hỏi về tương lai của miền Nam thì vị sư lắc đầu: 
- Thầy e rằng rồi đây ngay những chiếc áo tu nâu sồng nghèo khó cũng khó được mặc! Đôi mắt vị sư buồn nhìn về xa xôi: 
- Từ khi cuộc chiến bùng nổ lớn, mất miền Trung, đồng bào hàng hàng lớp lớp chết vì chạy giặc, kinh kệ không vào trong đầu óc thầy nữa! Đôi mắt sư nhìn sâu vào mắt mọi người với tiếng thở dài. Giọng một người run run: 
-- Vì đau khổ của chúng sanh mà tâm thầy không an, đôi mắt thầy hướng ra ngoài cửa Phật, còn chúng con hôm nay có được giây phút an lạc hiếm hoi trong cuộc đời. Chỉ sợ mai đây khi bước ra khỏi bóng chùa... Sư chắp tay hướng lên bàn thờ Phật: 
- Mô Phật! Bây giờ thì mọi chuyện đã xong, chỉ mong rằng họ sẽ khôn ngoan giải quyết trong tình nghĩa huynh đệ, đồng bào ruột thịt thì mới mong oán oán không chất chồng! Lời Sư trầm hẳn xuống: 
- Các con rồi đây phải cố gắng nhẩn nhục chịu đựng, chấp nhận tất cả. Thầy tin rằng đồng bào mình không ai không thương các con. Hãy tạm quên lý tưởng mà luôn luôn nghĩ đến sự tồn tại thực tế của gia đình mình! Khi nghe Sư hỏi thăm gia cảnh mình, tự nhiên mọi người đều ứa nước mắt. Nước mắt sư cũng ứa ra. Vì thương nhớ quê nhà, lo âu cho đạo pháp hay biết trước số phận sắp tới của những con người còn trẻ đang quây quần trước mặt mà thầy khóc? Có lúc nào đó, lòng chợt nhớ đến mẹ. Không biết mẹ còn ở Huế hay lạc bước đến phương nào từ khi Huế mất. 
- Đêm nay thầy không thỉnh kinh, các con vào chánh điện mà nghỉ! Sư nói, rồi nhẹ nhàng đứng dậy. Anh em cũng đứng dậy chào người. Sư bước đi, dáng gầy xiêu xiêu. Màu nắng chiều tháng Tư nhạt nhòa trên vai áo nâu sồng, màu nắng loang lổ trên bậc thềm chùa như những mảnh vá của tâm hồn những người tạm nương nhờ cửa Phật đêm nay. Buổi tối anh em binh sĩ về sân chùa đầy đủ. Dưới ánh trăng mờ mọi người nằm la liệt, có người ngủ say bất động như xác chết. Một vài tiếng ho, ú ớ từ đâu đó vang lên. Không ngủ được, Nguyễn Mạnh Tông ngồi dậy nói : 
- Anh Ba ơi, anh em mình đi một vòng trong sân thử xem!
* Trần Văn Minh ĐĐT Đại Đội Chỉ huy, nghe nói cũng ngồi dậy: 
- Em đi với anh Ba và anh Tư! Tông hỏi: 
- Có cần đếm thử xem anh em còn đủ không? 
- Thôi khỏi cần. Chắc không có anh em nào bỏ đi đâu! Tiểu Đoàn Trưởng nghĩ thầm: 
"Anh em ai bỏ đi lúc này cũng được nhưng chắc không ai nỡ, anh em biết rằng nếu có người bỏ đi thì ngày mai các sĩ quan chỉ huy sẽ bị làm khó dể. Anh em ở lại để tỏ rỏ tình huynh đệ và tính kỷ luật của đơn vị một lần cuối. Cám ơn các em. Chúng ta chỉ còn với nhau ở nơi yên tỉnh này một đêm thôi. Rồi ngày mai... "
* * *
 
Mọi người ngước mắt nhìn bầu trời phương xa đang treo lơ lửng một vài trái sáng. Chắc chắn đâu đó, quanh Sài Gòn và ngay trong lòng Sài Gòn giờ phút này vẫn còn có những người vẫn tiếp tục chiến đấu. Còn vùng 4 chiến thuật nữa. 
 
Vùng bốn không đầu hàng CS. Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng là những danh tướng, quý vị sẽ không tuân lệnh tổng thống Dương Văn Minh. Vùng bốn dân đông, kinh tế phồn thịnh sẽ là nơi quy tụ những anh hùng. Khi ba người trở lại chỗ cũ thì thấy mấy anh em thuộc Trung đội Quân báo của thượng sĩ Bé đang ngồi nhìn dáo dác chung quanh. Bé nói: 
- Em giật mình thức dậy không thấy Thiếu Tá và hai Đại Úy nên gọi anh em dậy đi tìm! Tiểu Đoàn Trưởng cám ơn rồi bảo mọi người đi ngủ. 
 
Tình cảm anh em vẫn còn gắn bó quá, thật không có gì thay đổi dù Tiểu Đoàn Trưởng bây giờ không còn là Tiểu Đoàn Trưởng, sĩ quan không còn là sĩ quan... Đặt lưng nằm xuống, nhưng ba người vẫn không ngủ được. Giờ phút này, thật sự chỉ có giờ phút này mới nghĩ đến gia đình vợ con, mấy ngày qua chỉ nghĩ đến sự an nguy của đơn vị. Chỉ có những người lính chiến đấu mới biết rõ điều này hơn ai hết. Một đêm yên lành, thể xác bềnh bồng trôi qua đêm. Sáng 1 tháng 5, nắng đã lên ngoài sân chùa. 
- Mời Trung Tá, Thiếu Tá uống trà! Nguyễn Toàn, nguyên là người phụ trách cơm nước cho Tiểu Đoàn Trưởng, pha trà và mời. 
-Thôi anh Toàn, đừng gọi Trung Tá, Thiếu tá, Đại Úy gì nữa, mọi người đều như nhau, cùng một hoàn cảnh cả! 
- Dạ, nhưng tụi em vẫn xem như không có gì thay đổi! Tiểu Đoàn Trưởng quay qua người lính quân báo bên cạnh, hỏi nhỏ: 
- Cây súng nhỏ của tôi cậu còn giữ không? Người lính nỡ nụ cười: 
- Em xin lỗi, em cố giữ như lời Thiếu Tá dặn, nhưng mấy anh em khuyên em ném nó đi, coi chừng Thiếu Tá nóng nảy làm bậy, khổ cho gia đình. Tụi em thấy mấy người du kích có vẻ nể nang chúng ta, họ không dám làm nhục Thiếu Tá và các vị sĩ quan đâu. Loạng quạng tụi em bẻ họng tụi nó hết! Khoảng 11 giờ trưa, xã đội trưởng xuống gặp Tiểu Đoàn Trưởng, yêu cầu tập trung binh sĩ để nhận giấy chứng nhận cho ra về. Theo lời Tiểu Đoàn Trưởng, mọi người kéo nhau xuống tập họp tại sân xã. Tiểu Đoàn Trưởng và các Sĩ Quan nhận giấy rồi phát lại cho anh em binh sĩ . Đứng trước anh em đang tập họp, Xã đội trưởng VC nghiêm sắc mặt rồi nói: 
- Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam khoan hồng cho tất cả các binh sĩ nguỵ về với gia đình. Yêu cầu khi về địa phương phải đến trình diện chính quyền Cách Mạng. Các sĩ quan cấp úy cũng sẽ được ra về nội trong chiều nay. Riêng sĩ quan cấp Tá sẽ được chuyển lên Ủy Ban Quận quyết định. Ai nhận giấy tờ xong bây giờ có thể ra về! Xã Đội Trưởng dứt lời, đưa mắt nhìn anh em binh sĩ. Anh em vẫn đứng yên, mắt hướng về những người chỉ huy cũ chờ đợi. 
 
Tiểu Đoàn Trưởng bước đến trước anh em nhưng miệng như không thốt ra được lời nào. Một phút rồi hai phút, bỗng trong hàng quân có tiếng khóc. Tiểu Đoàn Trưởng ứa nước mắt. Anh em ứa nước mắt. Tiểu đoàn trưởng nói và chớp chớp đôi mắt để làm khô nhanh hạt lệ đang ứa ra. 
- Ô kìa, sao lại... Anh em! 
 
Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ thấy một anh em nào khóc, ngay cả khi chứng kiến sự hy sinh của bạn mình. Bây giờ hết chiến tranh rồi, hết chết chóc rồi, anh em sẽ ra về xây dựng cuộc đời mới, sống hạnh phúc với gia đình vợ con thì tại sao lại làm như đàn bà thế, phải vui cười lên chứ. Cười như tôi đây này! Tiểu Đoàn Trưởng nói và cố mỉm cười. Cái mỉm cười lạ lùng nhất mà mọi người chưa bao giờ thấy. Anh em mỉm cười theo, có người cười thành tiếng nhưng vẫn có người còn sụt sùi. 
 
"TĐ 3/48 chưa bao giờ bại trận, ngay cả bây giờ cũng vậy, không được tỏ ra yếu đuối trước họ, không thể để họ xem thường tinh thần người lính miền Nam". 
 
Tiểu Đoàn Trưởng nói thầm với mình rồi quét đôi mắt sáng đầy cương quyết nhìn mọi người. Tiểu Đoàn Phó Nguyễn Mạnh Tông gật đầu nhận hiểu. Anh em nhận hiểu như đã nhiều lần nhận hiểu khi nghe cấp chỉ huy mình nói trước giờ xuất quân . 
- Bây giờ anh em có thể ra về, nhưng hãy trả lời tôi trước khi chúng ta chia tay! Tiểu Đoàn Trưởng chống hai tay vào hông, một cử chỉ quen thuộc mỗi lần đứng trước hàng quân. -Tất cả! Ngồi... 
- Xuống! - Đứng... - Dậy! 
 
Cả ba trăm người trả lời cùng với động tác ngồi xuống và đứng dậy một lượt, âm thanh hùng hồn vang động làm rung rinh tâm hồn những cán binh VC và đồng bào có mặt khiến họ đều nhất loạt vỗ tay. Khi mọi người bắt tay nhau từ giả, Tiểu Đoàn Trưởng quay qua hỏi trung sĩ Lê Văn Tạo:
- Ngoài anh Tạo biết gia đình Sơn, còn có ai biết nữa không?
- Chỉ một mình em biết thôi, em đã chuẩn bị tất cả rồi, xác Sơn đã được đưa lên xe lam, chốc nữa em sẽ đưa Sơn về nhà cho gia đình Sơn!
Giọng Tạo thật buồn và anh nói tiếp:
- Nó cố giữ cái máy truyền tin nên bị hụt cẳng khi qua sông, em kêu nó buông cái máy ra mà nó không chịu nghe... 
Đánh nhau không chết bây giờ lại chết, may mà sáng nay xác nỗi lên còn không thì ... 
- Có mấy trăm đây, em lấy mà trả tiền xe! 
- Thưa Thiếu Tá không, người chủ xe lam không lấy tiền! Sơn ơi! Cái chết của em đau lòng mọi người lắm, nhưng em sẽ bất tử trong lòng anh em bởi vì tất cả chúng ta không ai quên được những giờ phút Tiểu Đoàn lội qua sông để mong đến với Sài Gòn đang kêu cứu.
* * *
 
Gã tù binh đứng như trời trồng giữa buổi trưa ngày cuối tháng tư nắng gắt. Gã nhắm mắt lại, tai nghe lao xao những lời từ giả. Tay gã muốn cử động khi có bàn tay ai nắm chặt nhưng bàn tay gã như khô đi và cứng ngắt. Gã đứng đó và thấy một dòng sông đang chảy xiết với hình ảnh những người lính vội vã lội qua sông. "Sơn ơi! Sao em không chịu buông cái máy truyền tin, còn giữ nó làm chi trong giờ phút sau cùng khi không còn gọi được một ai, không nghe ai gọi mình!" Hởi con sông đang chảy xiết và sẽ chảy mãi trong trái tim đau đớn của ta! Ta làm sao quên dòng chảy ào ạt của ngươi đã nhận chìm, cuốn trôi đôi tay người lính đang nâng chiếc máy truyền tin lên cao, lên cao. Hởi người lính muốn qua sông về với Sài Gòn mà chưa qua được! Anh vẫn thấy đôi mắt em hướng về Thủ Đô buổi sáng 30 tháng Tư. 
 
"Ngày xưa khi anh mở mắt chào đời, Mẹ yêu, theo gương người trước chọn lời,... đặt tên cho người nặng tình yêu nước vào nôi ( Phạm Duy). Không biết con sẽ hát bài ca này bao nhiêu lần trong cuộc đời lưu lạc Mẹ ơi!...
 
Nguyễn phúc Sông Hương
* (Các danh xưng anh Ba, anh Tư, anh Năm ... mà Sĩ quan Tiểu đoàn 3 dùng từ khi thiếu Tá Phương (anh hai) còn làm Tiểu Đoàn Trưởng năm 1972, lúc đó Tiểu Đoàn Trưởng hiện tại là Tiểu đoàn Phó, là anh ba)
Ghi chú của nhóm chủ trương:
 
Sau khi SĐ18 được lệnh bỏ trống mặt trận Long Khánh và rút về ven biên Sài Gòn, không có một tin tức, văn bản hay báo chí nào nói đến cuộc chiến đấu bi hùng và tuyệt vọng của những người lính VNCH trong những ngày hấp hối sau cùng của miền Nam. 
 
Đọc "Người Lính Chưa Qua Sông", chúng ta như sống lại những ngày bi tráng và đau thương của quân lực. Nó là truyện thực, là vết tích của lịch sử bị bỏ quên, và nó đã sống lại trong tập truyện này.
Nguyễn phúc Sông Hương
---------------- 
 
BA NGƯỜI HẠ SĨ

-Nguyễn Phúc Sông Hương​
Nỗi danh nhất không những trong Tiểu Đội thám báo mà cả trong Tiểu Đoàn 3/48 là Bé em M79, Bằng Lựu đạn và Tùng dao găm.
Cây M79 trong tay Bé em khi đã nhã đạn thì không bao giờ trật mục tiêu dù xa hay gần. Đan nỗ thì làm bung mục tiêu, đạn cay thì đuổi địch chạy ra khỏi hầm, cho M16 đốn ngã.
 
Bằng lựu đạn, không những chỉ vì mang gấp đôi, gấp ba số lựu đạn cơ hữu dành cho một người lính mà vì lúc ném lựu đạn, sau khi rút chốt, còn thả bung cả mỏ vịt vài giây rồi mới ném ra khỏi bàn tay, quả lựu đạn khi rơi xuống mục tiêu thì nỗ ngay, địch không thể có thì giờ chụp quả lựu đạn ném lại mình. Ít người dám làm như vậy bởi vì chỉ cần sơ xuất ném chậm một giây thì quả lựu đạn sẽ nỗ trong tay mình.
 
Tùng dao găm còn ghê hơn. Cây dao găm là một thứ vũ khí thầm lặng, rất hữu ích cho người lính thám báo khi bò vào căn cứ địch. Địch ở xa hay gần, khi đã là mục tiêu củaTùng thì lưỡi dao găm không bao giờ khoan nhượng.
 
Cả ba đều là binh nhì quân dịch, cánh tay không xâm chữ “sát địch” nhưng đánh giặc rất chì. Trong trận Long Tân, Núi đất Bà Rịa năm 1973, Tiểu Đội thám báo do Thượng sĩ Bé anh chỉ huy vô tình lọt vào ổ phục kích của địch. Địch không nỗ súng, ta không kịp kéo cò, đành chơi cận chiến, nhưng số ít thua số đông. Bé em, Bằng và Tùng đi đầu bị bắt sống.
 
Thượng sĩ Bé thoát chạy về báo cáo. Tiểu Đoàn tức tốc mở ngay cuộc hành quân, không cần pháo binh dọn đường, lặng lẻ áp sát căn cứ địch mới đồng loạt nổ súng xung phong, giải cứu ba người. Cuộc hành quân chỉ được báo cáo lên Trung Đoàn, sau khi tiếng súng tấn công bắt đầu nỗ, quân lính đã tràn vào căn cứ địa VC. Địch không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn. Lúc này mới gọi pháo binh rượt theo. Đại Tá Trần Bá Thành, Trung Đoàn Trưởng ngạc nhiên, phán một câu” Các chú làm gì lẹ vậy!”
 
Ba binh nhì Bé em, Bằng và Tùng cùng được thăng cấp hạ sĩ do chính Tư Lệnh Sư Đoàn Lê Minh Đảo và Tư Lệnh phó Quân Đoàn 3 Nguyễn Văn Hiếu đến gắn tại mặt trận. Lý do vì cả ba đã cùng loạt cận chiến, cướp vũ khí, chống lại địch khi thấy quân ta ào ạt xung phong tràn vào căn cứ địa Tiểu Đoàn 274 thuộc Trung đoàn 33 VC.
 
Từ ngày đó ba người như hình với bóng, ở chiến trường cũng như khi về hậu cứ.
 
Chiều ngày 8 tháng tư, Tiểu Đoàn hành quân từ ngã ba Hàm Tân Gia Rai lên hướng Bắc, Đông Bắc thì đụng địch mà theo suy đoán đây là quân tiền phương CSBV. Hai cánh quân đều đụng mạnh. Trung Úy Nguyễn Ngà, Đại Đội trưởng hy sinh. Toán thám báo của Thượng sĩ Bé lần theo dõi ba người đôi nón cối mang túi trên vai xuất hiện trên đường đi Gia Rai. Đêm đó địch yên lặng. Nửa khuya máy PCR 25 Tiểu đoàn sôi ò è như có tín hiệu của Tiểu Đội thám báo nhưng không có tiếng nói.
 
Sáng sớm ngày 9 tháng tư,Tiểu Đoàn được lệnh rút về tăng cường chiến tuyến trong khi hàng ngàn đạn pháo của địch rơi xuống Xuân Lộc, mở đầu cuộc đại tấn công của quân đội CS.
 
Chiều ngày 9, Tiểu đội thám báo trở về nhưng thiếu mất toán ba hạ sĩ Bé em, Bằng và Tùng. Thượng sĩ Bé báo cáo đêm qua Tiểu đội phân tán thành ba toán ẩn mình vì khắp nơi trong rừng, địch di chuyển gần như suốt đêm, có cả tiếng động cơ xe tăng. Không dám gọi mà chỉ dùng hơi thở mà thôi, nhưng sau đó máy không phát sóng được. Đến sáng thì bị địch phát hiện. Các toán nỗ súng, zdọt lẹ, tìm đến điểm hẹn. Thượng sĩ Bé đợi đến chiều vẫn không thấy Bé em, Bằng và Tùng.
Bé anh tin tưởng với khả năng của người lính thám báo, ba người hạ sĩ sẽ trở về trong nay mai. Còn tôi, tuy thương ba người lính đặc biệt của đơn vị nhưng thật tình xem chuyện thất lạc của họ là chuyện bình thường của người tham dự cuộc chiến. Những năm tháng ở tù cải tạo, tôi thật sự không còn nghĩ đến việc đó nữa.
 
Năm 1984, sau khi ra tù, tình cảm thôi thúc khiến tôi về thăm Xuân Lộc. Về thăm Xuân Lôc như về thăm quê nhà, một quê nhà không có nhà cũ, vườn xưa, không có người thân thích chờ đợi, Nhưng thật không ngờ, không bao giờ nghĩ đến. Người đàn ông nhỏ con, một mắt đứng bên chiếc xe đạp thồ chờ khách ở bến xe đò lại là Bé em.
– Xin lỗi, có phải là ông thầy, à à là anh không? Bé em hỏi.
Tôi chìa tay ra. Bé em đưa cả hai tay chụp lấy. Chiếc xe đạp thồ cũ kỷ rơi ngã xuống. Cả hai chúng tôi nhìn chiếc xe ngã, cùng cười.
– ” Bằng và Tùng”? Tôi hỏi.
 
Bé em không trả lời ngay mà hỏi lại tôi về Thượng sĩ chỉ huy và anh em Tiểu đôi thám báo.
 
Khi nghe tôi nói “Đầy đủ, chỉ có thiếu ba cậu”, gương mặt Bé em như bừng sáng với những giọt nước mắt đang ứa ra:
”Trời ơi! Em biết mà, em ở đây bao năm chờ anh Bé, chờ bạn bè, bây giờ thì quá sung sướng ông thầy ơi”.
 
Bé đưa mắt nhìn về khu đồn điền cao su, giọng buồn:” Bằng và Tùng không còn nữa từ những ngày đó anh à”.
Một người đàn bà vừa kéo hai xách hàng xuống xe, quay mặt nhìn Bé em, gọi:
 “anh chột, cho tôi về Bảo Chánh”.
 
Bé em gượng mỉm cười nhìn người đàn bà, nói: “ Bà chị thông cảm, xin gọi người khác, hôm nay tui gặp bạn cũ, mừng quá, phải đi lai rai với nhau một lúc…”
Thấy tôi nhìn vào con mắt chột của mình với vẻ ái ngại, Bé em cười :
” Ở bến xe này, em có tên là anh chột xe thồ. Người gọi, người nghe đều thích”.
 
Tôi ngồi lên xe đạp để Bé em chở về nhà.
– Về nhà em lai rai rồi em chở ông thầy đi khắp Xuân Lộc thăm cảnh củ người xưa. À, mà ông thầy tìm thăm ai ở đây”?
-Tự nhiên nhớ Xuân Lộc mà đi. Bây giờ bất ngờ gặp lại một người em. Tôi nói và thân mật vỗ vào lưng Bé em. Chiếc xe đạp nghiêng nghiêng như cùng xúc động với người đang cầm tay lái. Giọng Bé em run run:
” Một thằng em chứ anh ba!”*.
 
Bé em nói đúng. Một thằng em, thằng em trong đơn vị, gọi lên nghe thật tình cảm như gọi thằng em trong gia đình mình.
 
Ghé qua nhà Bé em không đầy mươi lăm phút rồi lại chở nhau đi. Vùng đất này, xóm làng này,trước kia mình là người quen nhưng bây giờ là người lạ, bị để ý thì phiền. Mới ra tù, tờ giấy ra trại mang theo trong người dể bị thu hồi lắm. Bé em hiểu điều đó nên không ép tôi ngồi lâu.
 
Đèo nhau trên xe đạp, chầm chậm đi khắp nơi trong thị trấn chiến trường cũ, tâm sự, nói cười không ai để ý.
 
Nhớ lại đêm rút quân, bây giờ vẫn còn buồn. Đêm đó, đi bên cạnh, Thượng sĩ Bé anh nhiều lần yêu cầu tôi cho Tiểu Đội thám báo ở lại Xuân Lộc chờ đợi ba người trở về. Lúc đó tâm trạng tôi không yên. Tôi không nghĩ nhiều đến cuộc đụng độ với VC trước mặt vì đánh nhau là chuyện bình thường. Hình ảnh những người vợ lính, con lính đứng trước cổng trại Long Giao, căn cứ Trung Đoàn 48 mới làm mình suy nghĩ, đau lòng. Họ lặng lẻ nhìn theo đoàn quân trong đó có chồng, có cha mà không một lời than, tiếng khóc. Chồng đi, cha đi, vợ con ở lại trong trại gia binh. Đêm nay họ thế nào? Ngày mai họ ra sao?
 
Dường như tôi đã nói với Bé anh với giọng bực bộI ”Nếu được thì tôi cũng dẫn cả Tiểu đoàn quay lui”. Từ đó Bé anh im lặng.
 
Tiểu đoàn sau khi về Long Bình, cùng Trung Đoàn lên Trãng Bom làm tuyến chận ngay bên này đường xe ủi đất đào sâu cắt ngang Quốc Lộ1 để làm cản trở xe tăng T54 của quân CSBV tiến về Biên Hòa. Ngày nào Bé anh và anh em trong Tiểu Đội thám báo cũng đứng bên này tuyến trông chờ bóng ba người bạn xuất hiên bên kia để nhào qua cứu, nhưng mãi đến ngày 27 tháng tư, TĐ lại một lần nữa theo lệnh rút lui. Bóng ba người hạ sĩ vẫn không thấy. Từ đó, xem như Bé em, Bằng và Tùng đã hy sinh.
 
Còn ba người, trong thời gian đó, sau khi thất lạc đơn vị bị VC phát hiện, rượt theo “bắt cho được bọn trinh sát nguỵ”, như tiếng la lối om sòm của VC khắp nơi trong rừng. Ba người đã không thể tìm đến điểm hẹn. Bằng bị thương ở bả vai trái ngay từ khi bị VC phát hiện, bắn xối xả một loạt AK, may mà chỉ trúng một viên. Lúc đó Tùng ẩn mình sau một thân cây lớn, phóng dao găm cứu bạn. Còn Bé em cầm cây M79 trong tay nhưng không bắn được vì cây rừng chằn chịt.
 
Ba ngày đầu, ba người len lỏi trong rừng, tìm nơi kín đáo ẩn núp, ban đêm lần mò về hướng Xuân Lộc nhưng cũng không đi được xa.
 
Đối với người lính thám báo, vùng rừng đồi Gia Rai, Bảo Chánh không xa lạ gì, nhưng lúc này gần như nơi nào cũng có bóng dáng quân CS, mọi ngã vào Xuân Lộc đều bị lấp kín bằng xe tăng, lính bộ được nguỵ trang rất khéo léo.
 
Bằng càng ngày càng kiệt sức vì máu ra nhiều và những cơn sốt hành hạ.
 
Khi lần mò về được vùng đồn điền cao su, thấy nhiều quân trang, quân dụng của quân đội CS còn vươn vải khắp nơi, ba người mừng rỡ, tưởng quân địch bị thiệt hại nặng, đã bỏ đi, ai ngờ họ vẫn còn đào hầm hố trú ẩn trong vùng bị đạn bom tàn phá, chuản bị cho cuộc tấn công khác.
 
Một lần nữa, ba người lại bị rượt đuổi. Bằng không đủ sức chạy trốn, dừng lại, tay phải cầm trái lựu đạn, đưa miệng cắn rút chốt, xoay người bung mõ vịt ném vào toán VC vừa rượt tới gần, tiếng lựu đạn nỗ ầm cùng với tràn AK. Xác bốn VC tung lên. Bằng cũng gục xuống. Còn lại Bé em và Tùng, nhanh nhẹn như sóc, băng mình từ gốc cao su này đến gốc khác tránh đạn địch và bắn trả khá chính xác. Thấy được một gò mối, hai người nhào đến, nép mình sau gò mối chống trả nhưng bốn bề bị địch bao vây, Khi Tùng trúng đạn cũng là lúc súng không còn viên đạn nào.Bé em còn trái lựu đạn cuối cùng, chưa kịp rút chốt thì bỗng nhiên một loạt đạn pháo rơi xuống ầm ầm, hất tung rừng cây cao su gãy đổ cùng với xác người. Bé em cũng bị hất tung nhưng may mắn sống sót, chạy thoát ra khỏi khu vực.
 
Thấy một chiếc xe chở công nhân đồn điền bị trúng đạn pháo, có bốn người chết chắc đã vài ngày, Bé em thay đổi áo của mình bằng chiếc áo công nhân trên xác người tài xế; sau đó nhập vào đoàn người chạy loạn, phần nhiều là đàn bà, trẻ thơ đói, khát đang nằm la liệt bên cánh rừng cao su.
 
Nhiều người mẹ lần mò đến các gốc cao su tìm nước trong những chiếc chén hứng mũ cao su cho con mình, nhưng chẳng ai được may mắn bởi vì những ngày qua không có mưa, còn mũ cao su trong chén thì đã đạc quánh. Bé em mệt mõi rã rời, nằm lăn, ngủ thiếp giữa đám người đang khóc lóc.
 
Tiếng súng Ak chát chúa đánh thức Bé em dậy. Khoảng mười mấy người đội nón cối đang chỉa súng hò hét, lùa đám đông vào một khu đất trống gần một xóm nhà bị đạn bom tàn phá.
 
Một người chỉ huy lính CS tay cầm súng ngắn, tay chống nạnh, mặt hầm hầm la lối:”Bọn người này giúp bọn nguỵ gài mìn, gài bẩy giết hại cách mạng rồi bỏ chạy theo Nguỵ, phải bắn bỏ hết. Phải trả thù cho các đồng chí đã hy sinh.
 
Hai người lính CS, mở cặp mắt trừng trừng nhìn đám đông, dò xét, tìm kiếm rồi kéo ra khoảng vài chục người có cả ông già, đàn bà dáng vẻ dân thành phố, tập trung trước hai cây súng đại liên.
 
Bắn, bắn hết, giết hết! Tiếng hét ra lệnh bắn, tiếng đại liên thi nhau nỗ. Hàng loạt thân người đổ xuống, máu văng phủ đỏ màu xanh cỏ dại.
 
Bắn xong một loạt, như say máu, bọn CS không cần chọn lựa nữa mà chỉa súng đẩy đám đông ra từng nhóm. Toán thứ hai, thứ ba lần lượt bị đốn ngã. Bé em lọt vào toán thứ ba, đã khôn ngoan ngã xuống trước khi súng đại liên nhả đạn tới tấp. Những xác người ngã trên thân Bé, nhuộm máu. Không ai để ý vì tiếng khóc la của những người chờ phiên mình và tiếng rên rĩ của những người chưa chết hẳn.
 
Rồi Bé không còn nghe tiếng súng nổ nữa. Bé cho rằng họ giết người đã chê chán, tạm ngừng để đem người chết đi chôn. Bé nghe có tiếng động cơ nỗ, bánh xe đang lăn về hướng mình. Bé suy tính không biết làm sao để thoát. Hay cứ để họ ném mình lên xe như một xác người rồi sẽ tính chứ chạy trốn lúc này chắc không thoát được.
 
Bỗng có tiếng người la lối ra lệnh:” Không được bắn nữa. Tôi chịu trách nhiệm. Các đồng chí xem người nào còn sống thì tìm cách đưa người ta đi cứu.
 
Nhiều người bị thương nặng cất tiếng kêu la. Những người dân chưa bị bắn theo lệnh lính CS đến kéo những kẻ còn sống, có cả Bé ra khỏi đống xác người. Bé không chết nhưng con mắt trái bị mù vì tay hay đầu người nào đó khi ngã xuống đã đánh mạnh vào hoặc bị cây đâm mà Bé trong cơn thập tử nhất sinh đã không còn cảm giác đau đớn.
 
Cảnh tàn sát dã man người dân lành của lính CSBV làm cho Bé quá hãi hùng, kinh tởm. VIệc rút quân khỏi Xuân Lộc của QLVNCH làm cho Bé càng chán nản, đau buồn. Đầu óc Bé luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh những xác người bị súng đạn VC đốn ngã, cảnh hoang tàn, trống vắng, đầy mùi tử khí của thị trấn Xuân Lộc và các vùng chung quanh. Thế mà Bé em vẫn không về quê Gò Dầu, Tây Ninh ngay mà vẫn ở lại Xuân Lộc. Lý do vì Bé phải kiếm tìm và chôn cất Bằng và Tùng như lời thệ nguyện cam kết với nhau từ ngày ba người bị VC bắt, được giải cứu, cùng được thăng cấp hạ sĩ: Người chết sau chôn người chết trước.
 
Một thời gian, sau khi CS làm chủ Xuân Lộc, Sài Gòn, rất nhiều người đã tự đi tìm kiếm xác người thân chạy loạn, bị chết bỏ xác trong vùng đồn điền cao su dọc theo Quốc Lộ 1. Bé là một trong hàng trăm người đi tìm kiếm . Bé dể dàng tìm ra xác hai bạn vì đã biết nơi bạn nằm xuống. Việc nhận xác có phần khó khăn vì xác đã mục rữa. 
 
Hôm đó cũng có mấy người bộ đội đi tìm xác. Thấy Bé em tay cầm thẻ danh bài, có người hỏi” lính đi tìm bạn phải không? Bé em không chút sợ hãi, gật đầu. “Anh trước mang quân hàm gì? Bé trả lời: Hạ sĩ. Còn hai người này? Cũng là hạ sĩ. Cũng là hạ sĩ à, ghê nhỉ. Định chôn đâu? Bé chưa trả lời thì người lính CSBV vừa chỉ tay ra ngoài khu đất trống cạnh đồn điền cao su, nói tiếp:” Ngoài kia còn chổ trống, nhưng anh nhớ phải làm dấu kẻo mai kia chúng tôi hốt nhầm, không xứng đâu”.
 
Bé buồn và tức. Đất đai của mình họ đến chiếm, bây giờ lên mặt làm chủ, chưa chi đã phách lối. Ai cần nằm bên bọn họ mà sợ nhầm lẫn, không xứng.
 
Bé khóc khi gói ghém đem tạm chôn hai bạn ở gần Dầu Giây. Một thời gian sau, theo lệnh chính quyền địa phương đã dời xương cốt Bằng và Tùng đến chôn dưới chân núi Chứa Chan. Sau nhiều năm cây cỏ đã tràn lan che lấp, chính Bé đã một lần đến thăm nhưng không tìm ra được. Bé không buồn về việc này mà nghĩ rằng như vậy hai bạn được nằm yên, khỏi phiền luỵ đến ai. Rồi đây, biết đâu người ta lại tranh dành nơi yên nghĩ của những xác người bại trận.
 
Buổi chiều, chở tôi trở lại bến xe đò, Bé nói: “ Gặp được anh ba, em mừng quá, càng mừng hơn khi được biết anh Bé anh và anh em trong Tiểu đội Thám báo ngày đó đã về đầy đủ. Tội nghiệp anh Bé và các bạn hồi đó lo lắng cho ba đứa em nhiều”. Tôi ôm vai Bé em, nghe cảm xúc của chính mình và của bạn đang dâng lên.
 
Bé nói, giọng chân thành: 
”Gần mười năm rồi, bây giờ mới có được một bàn tay xiết chặt, ấm áp. Ông thầy cố giữ gìn sức khoẻ, biết đâu một ngày nào anh em mình lại cùng đứng bên nhau. Em còn muốn mang cấp bậc hạ sĩ anh ba à “.
Nguyễn Phúc Sông Hương
----------------- 
 
THÁNG TƯ, LÍNH KHÔNG CẦN HỚT TÓC
Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài cứ để tóc dài thêm,
Giáp trận, chẳng ai cần nón sắt
Đầu trần, tóc dựng, mắt trừng lên.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài khói súng bám càng thơm,
Nòng súng tháng tư không hạ nhiệt
Lòng lính tháng tư ngọn lửa bừng.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài gió lộng thổi tung bay,
Đánh giặc, bạn ta luôn bắn đứng
Oai phong sừng sững suốt đêm ngày.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài gương mặt lạnh lùng hơn.
Gương mặt bao người vừa ngã xuống
Băng giá còn nguyên nét oán hờn.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài, tay kẹp súng lia ngang,
Mấy mươi tăng địch phơi ngoài bãi,
Lính bộ, rừng su lấp mấy ngàn.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài theo nhiệt huyết tuôn tràn
Đại liên khạc đạn lòng chưa thỏa
Huống gì quyết tử lính miền Nam.

Tháng tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài bay dưới bóng cờ bay,
Dạ thưa Tư lệnh xin đừng phạt
Có một không hai trận cuối này.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc
Tóc dài ngang dọc giữa trùng vây.
Trùng vây! Trùng vây nào khép được
Tóc xanh dài mọc chúng ta đây.
--------------

MẶC KỆ AI BỎ NHÀ, BỎ NƯỚC
Chiều 29 tháng tư, Tư lệnh hỏi:
“Tiểu đoàn em còn lại bao nhiêu,
Về Long Bình có ai đào ngũ,
Đạn dược mang theo được ít nhiều?"

Dạ, Tiểu đoàn còn ba trăm bảy,
Với đầy cấp số đạn trên lưng,
Không ai khai bệnh, không đào ngũ
Thừa sức chờ chơi trận cuối cùng.

Cùng Thiết đoàn 5 trụ Tân Hiệp
Đợi chờ bắn cháy bọn xe tăng,
Mười hai giờ khuya, vang trong máy
Huấn lệnh gì đâu thật lạ lùng!

Chiều nay đôi mắt Tư lệnh đỏ
Mình tưởng giống mình mất ngủ thôi.
Bây giờ mới biết vì đau khổ
Thượng cấp bỏ đi, chạy hết rồi.

Dạ, Tiểu đoàn còn ba trăm bảy
Toàn những thằng em rất chịu chơi.
Mặc kệ ai bỏ nhà, bỏ nước,
Còn lính gan lì Tư lệnh ơi!
------------- 

CHÉN CƠM LÀNG LONG THẠNH MỸ NGÀY 30-4
Tiểu đoàn hai hàng đều bước
Tay không súng đạn,
Vẫn ngước cao đầu,
Dân làng bên đường
Vỗ tay chào đón,
Người được thắng trận
Ngơ ngác nhìn nhau.

Ba trăm người sát vai ngồi xuống,
Cởi giày, vắt vớ, nói, cười.
Nghe trong đám đông
Tiếng ai sụt sịt
Các chú lính ơi!

Mẹ già đem cơm, canh, cá,
Các con ăn nhiều cho no,
Nhìn bầy con ăn ngon quá,
Mẹ vui, cảm động khóc òa.

Sư già rộng mở cửa Phật,
Đêm nay thầy không thỉnh kinh
Các con vào chùa yên ngủ*
Quên ngày gian khổ chiến chinh.

Chuyện xưa nhiều khi nhớ lại,
Tưởng chừng như mới hôm qua,
Chén cơm làng Long Thạnh Mỹ
Chan canh với hạt lệ nhòa...

Nguyễn Phúc Sông Hương
*Chùa xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Đức
------------------ 

No comments:

Post a Comment

Popular Posts